Khung chính sách
- Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu là phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; phát thải đạt đỉnh vào năm 2035 rồi giảm nhanh. Đến năm 2050, so với kịch bản phát triển thông thường, phát thải ngành năng lượng giảm 91,6%, nông nghiệp giảm 63,1%, chất thải giảm 90,7%, các quá trình công nghiệp giảm 84,8%; lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp tăng hấp thụ để đạt tổng phát thải ròng không lớn hơn âm 185 triệu tCO2e. Đến năm 2030, phát thải khí mê-tan giảm 30% so với năm 2020. Chiến lược cũng yêu cầu các cơ sở có mức phát thải hằng năm từ 200 tCO2e trở lên thực hiện giảm phát thải.
- Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022: đến năm 2030, giảm 15,8% tổng phát thải so với kịch bản phát triển thông thường (146,3 triệu tCO2e) bằng nguồn lực trong nước; mức giảm có thể đạt 43,5% (403,7 triệu tCO2e) nếu nhận được hỗ trợ quốc tế về tài chính, công nghệ và năng lực. Đầu năm 2026, Việt Nam đang hoàn thiện NDC 3.0 cho giai đoạn 2026–2035.
- Thị trường các-bon trong nước: Nghị định 119/2025/NĐ-CP và Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định phân bổ hạn ngạch phát thải và sàn giao dịch, bắt đầu với nhiệt điện, sắt thép và xi măng (xem bài về thị trường các-bon trong nước tại mục này).
Hàm ý cho dự án đầu tư
- Kiểm kê và giảm phát thải: cơ sở thuộc danh mục phải kiểm kê khí nhà kính sẽ chịu nghĩa vụ ngày càng chặt chẽ hơn, gồm kiểm kê, xây dựng kế hoạch giảm phát thải và tham gia thị trường các-bon khi được phân bổ hạn ngạch.
- Yêu cầu của bên cho vay: Tiêu chuẩn hoạt động số 3 của IFC yêu cầu định lượng phát thải hằng năm khi vượt 25.000 tCO2e/năm; Nguyên tắc Xích đạo (EP4) yêu cầu đánh giá rủi ro khí hậu và phân tích phương án ít phát thải với dự án trên 100.000 tCO2e/năm. Ngân hàng Thế giới và ADB đánh giá rủi ro khí hậu và tính phù hợp với Thỏa thuận Paris trong quá trình chuẩn bị dự án.
- Rủi ro chuyển đổi và rủi ro vật lý: nhà đầu tư quốc tế ngày càng xem xét cả rủi ro chuyển đổi (chính sách, giá các-bon, công nghệ) lẫn rủi ro vật lý (ngập lụt, nắng nóng, hạn hán) ngay từ giai đoạn nghiên cứu khả thi.
Vì vậy, số liệu phát thải, phương án giảm thiểu và đánh giá rủi ro khí hậu nên được đưa vào ĐTM, ESIA và hồ sơ nghiên cứu khả thi ngay từ đầu, thay vì bổ sung sau khi bên cho vay yêu cầu.